|
Kỷ niệm 100 năm đông kinh nghĩa thục (1907-2007) Một nhà trường vĩ đại 23-09-2007 02:01:12 GMT +7 Học viên được nâng cao kiến thức là chính, chứ không phải vì bằng cấp. Họ cổ động học quốc ngữ, nhưng không quá đề cao tiếng mẹ đẻ mà gièm pha, chê bai ngoại ngữ. Họ dạy cả Hán văn và Pháp văn. Họ không chỉ vận động mà còn thực hiện “Chữ Tàu dịch lấy chữ Ta/ Chữ Tây cũng phải dịch ra chữ mình” và khuyến khích mọi người “Từ đây phải học cho tinh/ Học Tây, học Hán cho rành mới hay”
Sáng 21-9, Trường ĐH Khoa học xã hội & Nhân văn TPHCM, Hội Nghiên cứu và Giảng dạy văn học TPHCM và Quỹ Dịch thuật Phan Châu Trinh phối hợp tổ chức hội thảo “Đông Kinh nghĩa thục - Một thế kỷ nhìn lại”, với sự tham dự của nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu trong cả nước. Các đại biểu đã có những ý kiến trao đổi thẳng thắn trên tinh thần khoa học và cầu thị.
Không chuộng hư danh
Đông Kinh nghĩa thục được thành lập vào tháng 3-1907 (Thống sứ Bắc kỳ ký phép hoạt động vào tháng 5-1907), nhưng đến cuối năm 1907 đã bị rút giấy phép. Chỉ hoạt động một thời gian rất ngắn, nhưng sau 100 năm nhìn lại, GS Hoàng Như Mai cho rằng Đông Kinh nghĩa thục là một sự kiện lịch sử quan trọng, là một thành tích đáng tự hào. Những chủ trương, việc làm của Đông Kinh nghĩa thục cho đến ngày hôm nay vẫn còn là những điều chúng ta phải nghiên cứu để thực hiện.
Như chúng ta đã biết, Đông Kinh nghĩa thục là một trường tư nhưng vì “nghĩa” hơn là vì học phí. Học viên không phải đóng tiền; nếu tiếp tục ở lại học buổi chiều thì nhà trường đãi cơm nước và chỗ nghỉ ngơi.
Trường nhận mọi lứa tuổi, cả nam lẫn nữ. Học viên được nâng cao kiến thức là chính, chứ không phải vì bằng cấp. Họ cổ động học quốc ngữ, nhưng không quá đề cao tiếng mẹ đẻ mà gièm pha, chê bai ngoại ngữ. Họ dạy cả Hán văn và Pháp văn. Họ không chỉ vận động mà còn thực hiện “Chữ Tàu dịch lấy chữ Ta/ Chữ Tây cũng phải dịch ra chữ mình” và khuyến khích mọi người “Từ đây phải học cho tinh/ Học Tây, học Hán cho rành mới hay”.
Chương trình dạy học của Đông Kinh nghĩa thục có đủ các môn khoa học xã hội và khoa học tự nhiên; đặc biệt các môn lịch sử, địa lý, văn chương Việt Nam được dạy khá kỹ với niềm tự hào “Trời Nam một dải non sông/ Ngàn năm cơ nghiệp cha ông hãy còn”... Nói chung, họ triệt để xóa bỏ các học từ chương ngày cũ, cái học chuộng bằng cấp để được làm quan, thay vào đó cái học mới, chuộng thực lực, không chuộng hư danh.
PGS-TS Trần Hữu Tá cho rằng phương pháp dạy học của các cụ cũng lạ. Hiện nay, chính lãnh đạo Bộ GD-ĐT nước ta vẫn đang bức xúc vì lối học lạc hậu. Lãnh đạo bộ đã phát hiện đúng bệnh: “Không cân đối giữa lý thuyết và thực hành, một số môn học còn dạy chay, phương pháp giảng dạy chậm đổi mới nên chất lượng đào tạo còn hạn chế”, nhưng đến giờ vẫn chưa thấy trị bệnh.
Các cụ Đông Kinh nghĩa thục trước chúng ta 100 năm, dù sách giáo khoa đã khá tốt, nhưng vẫn tạo điều kiện để học sinh có tài liệu tham khảo từ nhiều nguồn khác nhau; rồi còn các hoạt động ngoại khóa, phụ khóa như diễn thuyết, đối thoại... Chính từ những hoạt động này mà “Buổi diễn thuyết người đông như hội/ Kỳ bình văn khách tới như mưa”.
Vai trò của tầng lớp trí thức yêu nước
Từ trước đến nay viết về phong trào Duy Tân, phần lớn các nhà nghiên cứu thường lẫn lộn phong trào Đông Du và phong trào Duy Tân; nhất là xem Đông Kinh nghĩa thục ở Hà Nội là một phong trào riêng biệt.
Dựa vào những tư liệu lịch sử, một số đại biểu khẳng định, Đông Kinh nghĩa thục thực chất là “cánh tay nối dài” của phong trào Duy Tân ở Quảng Nam.
Theo học giả Nguyễn Q. Thắng, các nhà Duy Tân hồi ấy (1903-1908) đã biết được đối tượng chính là lớp người thiếu học ở nông thôn, nên họ đã sáng tác nên những câu ca ngắn, những bài vè khuyên theo mới, bỏ cũ... vẽ lên những hình tượng mới mẻ trong ngôn ngữ, cũng như dáng điệu của những người thiếu học để trở nên mẫu người tiến bộ, biết bỏ cái hư hèn, học đòi cái dáng dấp thời đại. Trong những cuộc hội họp công cộng, không phải để tranh ngôi thứ, mà ngồi để nghe các bài học mới mẻ, với những danh từ mà từ trước đến giờ họ chưa từng nghe thấy: “Chuông độc lập vang đình diễn thuyết/ Trống hoan nghinh dội bể Đông Dương”.
GS Nguyễn Văn Hạnh nói: “Phong trào Duy Tân cũng như Đông Kinh nghĩa thục đã thể hiện rất rõ chí hướng và vai trò của tầng lớp trí thức yêu nước và tiến bộ đối với vận mệnh của đất nước. Thật đáng quý khi ta thấy chính nghĩa của Đông Kinh nghĩa thục đã tập hợp được đông đảo những nhà trí thức yêu nước và tiến bộ thuộc cả phái cựu học và tân học, chính kiến, thành phần xuất thân và tuổi tác rất khác nhau.
Bên cạnh Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Tăng Bạt Hổ, ta thấy Lương Văn Can, Nguyễn Quyền, Lương Ngọc Quyến, lại có cả Đào Nguyên Phổ, Dương Bá Trạc, Phạm Duy Tốn, Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn Bá Học v.v... Tinh thần yêu nước của người Việt Nam là như vậy, sức mạnh tập hợp của chính nghĩa là như vậy”.
Sau khi phân tích sự “đổi mới” của Đông Kinh nghĩa thục, nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Mai khẳng định đó là “Một nhà trường vĩ đại”. Ông nói: “Thật ra, nếu còn sống, các cụ hẳn chẳng bằng lòng dùng những từ ngữ thậm xưng như thế. Nhưng tôi không có chữ nào để nói được cảm nhận của tôi về những gì mà Đông Kinh nghĩa thục đã làm được cho dân tộc”. VU GIA |