Thứ năm, 01/01/2009 | 01:32GMT+7
email  in  comment
Kỷ niệm 95 năm ngày sinh Đại tướng Nguyễn Chí Thanh (1.1.1914 – 1.1.2009)
Sáng trong như ngọc

Nguyễn Chí Thanh là một trong số tướng lĩnh Việt Nam có công đầu trong hai cuộc kháng chiến chống ngoại xâm thế kỷ XX. Cuộc đời cách mạng của ông lúc nào cũng sôi động, hết mình

picture avatar

Ngày 28-1-1973 (tức 25 tháng chạp năm Nhâm Tý), Hiệp định Paris vừa ký kết bắt đầu có hiệu lực. Tổng Bí thư Lê Duẩn từ Hà Nội bay thẳng vào giới tuyến cùng đồng bào hai bờ Bắc Nam sông Bến Hải đón mừng Xuân mới. Tết năm sau (1974), Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Trường Chinh thăm vùng giải phóng tỉnh Quảng Trị. Trong buổi họp mặt cán bộ tại một địa điểm gần thị xã Đông Hà, Chủ tịch nước nhắc lại kỷ niệm về Bác Hồ. Những năm cuối đời, nhiều lần Bác đề nghị Bộ Chính trị cho vào thăm đồng bào miền Nam. Mọi người tìm cách khất. “Chúng tôi thưa: - lời Chủ tịch Trường Chinh - chúng tôi rất hiểu tình cảm Bác dành cho đồng bào miền Nam. Nhưng đường đi còn khó. Xin Bác cho toàn quân, toàn dân mở vùng giải phóng rộng hơn, làm đường tốt hơn nữa, rồi sẽ xin tổ chức mời Bác vào thăm đồng bào... Bác Hồ bùi ngùi: “Sức yếu thì tôi đi dần. Mỗi ngày đi chừng mười lăm, hai mươi cây số”. Nay ta có vùng giải phóng nối liền Quảng Trị qua Tây Nguyên vào đến Nam Bộ thì Bác Hồ không còn nữa. (Ông nghẹn ngào hồi lâu, lát sau mới nói tiếp được). Chúng ta nhớ đồng chí Nguyễn Chí Thanh. Giá anh Thanh còn sống thì đã đến đây giúp các đồng chí nhiều ý kiến. Nhưng anh Thanh không còn nữa...”.

Mang hết tâm lực hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã qua đời đột ngột hơn mười năm trước. Ngày hôm ấy ông đến bịn rịn chào tạm biệt Bác Hồ để ngày mai lên đường trở lại miền Nam thì tối bị cơn đột quỵ. Như nhà thơ Tố Hữu đã viết khi được tin bạn mất:

Tưởng lại đưa anh ra chiến trường

Đường về vó ngựa thẳng dây cương

Ngày mai...

Ai biết chiều nay... phải

Vĩnh biệt anh nằm dưới bóng dương

Nguyễn Chí Thanh là một trong số tướng lĩnh Việt Nam có công đầu trong hai cuộc kháng chiến chống ngoại xâm thế kỷ XX. Ông từng giữ nhiều trọng trách: Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Xứ ủy Trung Kỳ, Bí thư Liên khu ủy IV, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Nông nghiệp Trung ương, Bí thư Trung ương Cục miền Nam, Chính ủy Các lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng miền Nam..., và ở đâu, lúc nào cũng mang hết tâm lực hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Cuộc đời cách mạng của ông lúc nào cũng sôi động, hết mình song những cống hiến lớn của ông có lẽ thể hiện tập trung nhất khi ông cố gắng hoàn thành ba trọng trách tương ứng với các thời kỳ: cùng Đảng bộ mấy tỉnh miền Trung đưa phong trào kháng chiến chống Pháp cơ hồ tan tác dưới súng đạn tàn bạo của quân thù khi vỡ mặt trận Huế (đầu năm 1947), từ một Bình Trị Thiên khói lửa, bi thương trở thành một Bình Trị Thiên đau thương và anh dũng; trên cương vị Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị góp phần xây dựng Quân đội Nhân dân Việt Nam anh hùng từng bước tiến lên hiện đại và kiêm nhiệm Trưởng Ban Nông nghiệp Trung ương, châm ngòi cho một phong trào thi đua sôi nổi lan rộng ra nhiều lĩnh vực trên toàn miền Bắc; khi Mỹ ào ạt đổ quân vào miền Nam Việt Nam ông lại được phái vào làm Bí thư Trung ương Cục, Chính ủy Bộ Tư lệnh cùng quân dân Việt Nam đánh thắng địch những trận phủ đầu, khôi phục phong trào và âm thầm chuẩn bị Tết Mậu Thân 1968 làm thay đổi cục diện kháng chiến.

Có sức sải cánh bay cao nhìn xa

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, tôi có dịp cùng nhà thơ Tố Hữu về thăm quê đại tướng ở làng Niêm Phò (xưa còn có tên quê kệch là Kẻ Lừ), huyện Quảng Điền (Thừa Thiên). Đối với nhà thơ, đại tướng là người bạn vô cùng thân thiết “vừa tình đồng chí lại đồng hương”. Quê ngoại anh Lành (Tố Hữu) và quê nội anh Thao (Nguyễn Chí Thanh) chỉ cách nhau một con hói (sông hẹp). Tôi thuộc lớp đàn em, lại vinh hạnh được là một trong nhóm thanh niên, theo chủ trương của anh Thao với tư cách làm người lãnh đạo Phân khu Bình Trị Thiên những năm đầu kháng chiến chống Pháp, cho bứt khỏi phong trào đưa ra vùng tự do học tiếp nhằm đào tạo cán bộ lâu dài. Lại có may mắn, mùa hè năm ấy, tôi được tháp tùng đoàn của anh từ Thừa Thiên ra Việt Bắc họp. Đoàn đi bộ dọc theo dãy Trường Sơn, đêm nhặt củi đốt lửa ngủ giữa rừng già, ròng rã cả tháng mới tới được vùng tự do Liên khu IV. Và thật ngẫu nhiên thú vị, hòa bình trở lại, tôi là phóng viên báo theo sát bước chân anh bôn ba nhiều nơi trên miền Bắc, từ núi rừng Lào Cai, Lạng Sơn đến vùng giới tuyến Vĩnh Linh, Quảng Bình chọn hợp tác xã điển hình, khi anh theo chỉ thị trực tiếp của Bác Hồ, tìm cách khuấy động thi đua yêu nước trên mặt trận nông nghiệp. Từ “ngọn gió Đại Phong” tiếp tục dấy lên các phong trào Duyên Hải (công nghiệp), Bắc Lý (giáo dục), Ba Nhất (trong các lực lượng vũ trang)... Rồi từ kinh nghiệm này, Đảng sẽ chỉ đạo các tổ chức, đoàn thể phát động “ba sẵn sàng”, “ba đảm đang”, “tay cày tay súng”, “tay búa tay súng”... rất có hiệu quả trong chống Mỹ, cứu nước. Những chuyến theo anh đi công tác, đêm nghỉ lại các nhà khách, mới chín giờ điện đóm đã tắt ngấm, hai anh em ngồi bừng (không đèn lửa) nói chuyện. Anh kể cho tôi nghe bao chuyện tâm tình về làng Kẻ Lừ của anh, về những ngày tù tội, vượt ngục rồi nôn nao từ miền Trung bôn lên Việt Bắc cho kịp dự hội nghị Tân Trào, gặp “Ông Cụ”...

Bác Hồ rất quý Anh. Cái tên Nguyễn Chí Thanh là do chính Bác đặt cho (tên thật của anh là Nguyễn Vịnh). Tôi nghe nói, có lần Bác Hồ ví chú Thao như con chim bằng, có sức sải cánh bay cao nhìn xa.

Trò chuyện với nông dân là thú vui

Khoảng đầu năm 1967, anh từ miền Nam ra Hà Nội báo cáo công việc với Bộ Chính trị. Ngày chủ nhật, anh lại gọi tôi đến nhà, ngồi lên chiếc ghế đá không lưng tựa bên gốc dừa ngoài vườn, hỏi chuyện nông nghiệp. Được mấy ngày nghỉ, anh về huyện Mỹ Đức (Hà Đông) thăm hợp tác xã Phù Lưu Tế nổi tiếng nghề trồng dâu nuôi tằm. Như thường lệ, anh vẫn cho tôi theo sát. La cà trò chuyện với nông dân là thú vui đích thực của người lính gốc gác dân cày. Anh phát hiện khuynh hướng nhiều hợp tác xã chuyên canh ỷ vào ngành, nghề, coi nhẹ sản xuất lương thực mặc dù có ruộng nước, chỉ chăm chăm chờ Nhà nước cung cấp gạo ăn hằng tháng, trong khi nhu cầu của công nghiệp, quân đội và của cả tiền phương nữa, ngày càng bức xúc. Anh cho ý kiến chỉ đạo viết một bài đăng báo sẽ ký tên anh. Anh đọc sửa cẩn thận, sao cho thật đúng “giọng Nguyễn Chí Thanh” mới thôi. Trả tôi bản đánh máy, anh dặn: “Lúc nào mình bảo đăng hẵng đăng”. Tôi không hỏi thêm, song mang máng hiểu ngầm người chiến sĩ chuẩn bị trở lại chiến trường đây. Bởi hơn hai năm trước, đang xông xáo khắp các vùng quê, bỗng một hôm anh gọi tôi đến nhà, bảo viết gấp một bài báo dài mang tính tổng kết ký tên anh và cũng từng dặn: “Lúc nào tớ bảo đăng, mới được đăng”. Bài viết với đầu đề Thâm canh lúa in đậm tên tác giả Nguyễn Chí Thanh chiếm gọn trang 2 Báo Nhân Dân. Có mấy ai biết, lúc tờ báo đến tay độc giả, cán bộ hợp tác xã say sưa luận bình, tác giả đã có mặt tại chiến trường Nam Bộ rồi.

Đau đớn thay, bài báo về chủ đề kết hợp làm lúa với nuôi tằm không bao giờ xuất hiện trên mặt báo. Anh đột ngột từ trần, để lại tấm gương “sáng trong như ngọc” (thơ Tố Hữu) trong nỗi đau tiếc sững sờ của quân dân cả nước. Nhiều người không muốn tin ông qua đời vì bệnh dữ, mà rất lâu vẫn rì rầm ý kiến: Tướng Thanh hy sinh tại mặt trận, bởi tuổi mới ngoài năm mươi, trông ông sung sức thế cơ mà. Cách nào thì người chiến sĩ cũng đã ngã xuống vì dân tộc. Cánh chim bằng không còn sải rộng bay cao...

Phan Quang
Ngày :