Sinh viên Đại học Y Dược TPHCM trong phòng thí nghiệm. Ảnh: N.Hữu
Nói đến chất lượng giáo dục là nói đến khía cạnh phẩm chất và phẩm chất là một điều khó định nghĩa nhất và cũng không có những “cân, đo, đong, đếm” rạch ròi như các biến định lượng khác. Thật ra, đây là một trong những đề tài nghiên cứu của giới đo lường giáo dục và thống kê học. Theo tôi, giáo dục ĐH bao gồm dạy, nghiên cứu khoa học và học, do đó, chất lượng giáo dục phải bắt đầu từ người thầy và kết thúc ở người trò, qua hỗ trợ của cơ sở vật chất kể cả thư viện và công nghệ thông tin.
Người Thầy: Cần có kinh nghiệm nghiên cứu khoa học
Tôi có một kinh nghiệm cá nhân khi lần đầu tiên bước vào giảng đường ĐH ở Úc khoảng 26 năm về trước và kinh nghiệm này đã để lại trong tôi nhiều suy nghĩ về cách dạy và học ở nước ta. Vì đã quá quen với cách dạy “thầy giảng trò chép” ở nước ta, tôi bị sốc khi ông giáo sư già người Úc say sưa nói về những nghiên cứu của chính ông mà ông cho là rất thú vị, ông chẳng nói gì liên quan đến bài giảng, toàn là chuyện ngoài lề. Thú thật, lúc đó tôi cũng không biết nghiên cứu của ông thú vị ở chỗ nào! (Tuy không nhận ra cái thú vị của nghiên cứu, nhưng khi làm bài tập, đó lại là động cơ để tôi tìm hiểu thêm và qua đó học thêm nhiều điều). Xong buổi giảng, ông ra câu hỏi chỉ vỏn vẹn 10 chữ. Trong khi các bạn đồng môn của tôi nhanh chân đến thư viện, đăng ký máy tính (thời đó máy tính còn ít), xông xáo đi tìm tài liệu đọc thêm, thì tôi lúng túng không biết phải làm gì với 10 chữ đó.
Nhưng qua bài học sốc đó, tôi mới nhận ra một khác biệt rất quan trọng giữa ĐH và trung học: đó là vai trò của người thầy. Ở bậc ĐH, người thầy giảng dạy môn học mà họ là một chuyên gia, chứ không dạy học sinh như một người dạy ở bậc trung học. Ở ĐH, đối tượng của giảng dạy là môn học, còn ở trung học đối tượng là học sinh. Chính vì thế mà ở bậc ĐH, kỹ năng học (hay nói đúng hơn là tự học và đọc sách, báo) quan trọng hơn là nhồi nhét một mớ kiến thức căn bản.
Để truyền đạt kiến thức chuyên môn một cách hữu hiệu, người giảng ngoài những kỹ năng sư phạm, còn phải có kiến thức sâu và rộng về chuyên ngành để có thể khai triển những lý thuyết và ý tưởng từ nội dung của giáo trình. Giáo trình giảng dạy (ngày nay rất nhiều trên Internet), cũng như sách giáo khoa, chỉ cung cấp những kiến thức mang tính chuẩn mực, và ít khi nào cập nhật hóa với những nghiên cứu khoa học mới nhất. Trong y khoa, sách giáo khoa rất ít ai đọc và cũng ít ai dùng làm tài liệu giảng dạy; chỉ có các bài báo khoa học mới là tài liệu giảng dạy. Do đó, phần lớn những kiến thức để khai triển giáo trình giảng dạy chỉ có thể tiếp cận được qua nghiên cứu khoa học. Theo đó, một trong những biện pháp để nâng cao chất lượng giảng dạy, chúng ta phải bắt đầu từ người thầy, và người thầy phải là một nhà nghiên cứu khoa học chứ không đơn thuần là một người giảng bài.
Người thầy nên có kinh nghiệm làm nghiên cứu khoa học, vì nếu không thì người thầy chỉ là “thợ giảng”. Nhưng cái “hộ chiếu” để làm nghiên cứu khoa học là một học vị tiến sĩ. Thành ra, không ngạc nhiên khi thấy các trường ĐH Tây phương xem văn bằng tiến sĩ như là một tiêu chuẩn tối thiểu để được bổ nhiệm làm giảng viên hay giáo sư ĐH.
Tiêu chí của sinh viên khi tốt nghiệp
Bởi vì “sản phẩm” của đào tạo là con người với kiến thức chuyên môn cao, cho nên nói đến chất lượng giáo dục ĐH là nói đến chất lượng sinh viên tốt nghiệp. Nhưng vấn đề này lại rất ít được đề cập đến trong các hội thảo về chất lượng giáo dục. Vậy thì khi nói đến chất lượng sinh viên tốt nghiệp là nói đến cái gì? Nói tóm gọn, chất lượng ở đây bao gồm hai khía cạnh: tầm và tâm. Ở các nước phương Tây, người ta khai triển hai khía cạnh tầm và tâm thành 4 tiêu chí: kiến thức chuyên môn, kiến thức tổng quát, kỹ năng đặt và giải quyết vấn đề, và nhân cách.
Kiến thức chuyên môn tùy thuộc vào chuyên ngành mà sinh viên theo học. Chẳng hạn như sinh viên tốt nghiệp ngành y khoa phải có kiến thức về các lĩnh vực như cơ thể học, bệnh lý học, dịch tễ học, sinh hóa,... Cố nhiên, các kiến thức này đã qua thẩm định bằng những kỳ thi nghiêm chỉnh; chỉ khi nào sinh viên đỗ tất cả các bộ môn theo học thì mới được tốt nghiệp.
Kiến thức tổng quát bao gồm kiến thức về xã hội (kể cả văn học, triết học, văn hóa và lịch sử), nhận thức về các vấn đề ở tầm quốc gia và thế giới, thông thạo kỹ thuật vi tính, tiếng Anh, trách nhiệm cộng đồng,... Người tốt nghiệp ĐH chẳng những phải có kiến thức tổng quát, mà còn phải có khả năng phân tích và thẩm định thông tin một cách khoa học và logic.
Kỹ năng đặt và giải quyết vấn đề bao gồm khả năng phát hiện (problem finding) và “giải quyết vấn đề” (problem solving). Có thể nói rằng xã hội Tây phương là xã hội hướng về vấn đề và họ huấn luyện cho học sinh cũng như sinh viên đến nỗi nhìn đâu cũng thấy vấn đề! Từ phát hiện vấn đề cộng với kiến thức tiếp cận, sinh viên có sự tự tin và sáng tạo, không nhất thiết phải đi theo những lối suy nghĩ cũ hay theo đường mòn của người trước, không làm theo sách vở một cách máy móc.
Tiêu chí nhân cách rất quan trọng, vì chúng ta không chỉ đào tạo ra những chuyên gia thiếu nhân cách. Tiêu chí này không lạ gì với Việt Nam, vì cụ Nguyễn Du từng viết “chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”. Nhân cách bao gồm đạo đức xã hội, đạo đức nghề nghiệp, trung thực, có tinh thần trách nhiệm cao với xã hội, tôn trọng sự khác biệt và kỹ năng làm việc trong một nhóm.
Và cơ sở vật chất
Nhưng cho dù có một đội ngũ giảng viên với học vị tiến sĩ, mà không có hỗ trợ của thư viện hay cơ sở vật chất thì cũng không thể nào nâng cao chất lượng đào tạo được. Đã có rất nhiều thảo luận về chất lượng giáo dục ĐH, nhưng phần lớn chỉ xoay quanh vấn đề nội dung đào tạo và người thầy. Tôi cho rằng một lĩnh vực khác có tầm quan trọng tương đương, thậm chí cao hơn, chất lượng đội ngũ giảng dạy: Đó là thư viện.
Có thể nói không ngoa rằng thư viện là bộ mặt trường của ĐH. Nhìn qua thư viện và các dịch vụ liên quan như Internet, người ta có thể có vài ý niệm về chất lượng của một ĐH. Một thư viện ĐH thường phải có ít nhất một triệu sách và hàng ngàn tập san khoa học theo định kỳ. Ở Úc, một trường ĐH trung bình hằng năm dành khoảng 5-10 triệu USD để mua sách mới và các tập san khoa học.
Đối chiếu với tình hình thực tế
Người thầy: Ở nước ta số lượng giảng viên có học vị tiến sĩ còn quá thấp. Trong số 52.129 giảng viên ĐH, CĐ, chỉ có 10% có học vị tiến sĩ. Ngay cả trong số giảng viên có học vị tiến sĩ, chỉ có một phần nhỏ (20%) có kinh nghiệm làm nghiên cứu khoa học. Cần nói thêm rằng tỉ lệ tiến sĩ trong đội ngũ giảng viên ở các trường ĐH trung bình ở Tây phương là khoảng 70%. Do đó, không ngạc nhiên khi thấy một đánh giá mới đây cho biết chỉ có 1/5 số giáo sư và phó giáo sư nước ta xứng đáng với chức danh này.
Sinh viên tốt nghiệp: Đối chiếu với 4 tiêu chí chất lượng của sinh viên tốt nghiệp, chúng ta thấy chất lượng đào tạo của các ĐH nước ta còn quá hạn chế. Theo thống kê năm 2000 của Bộ GĐ-DT, hằng năm có khoảng 25.000 sinh viên tốt nghiệp ĐH, CĐ. Trong số này, chỉ có 50% sinh viên tốt nghiệp kiếm được việc làm; và trong số tìm được việc, chỉ có 30% tìm được công việc đúng ngành nghề. Nhưng 7 năm sau tình hình vẫn không thay đổi: Một nghiên cứu mới đây do ĐH Sư phạm TPHCM thực hiện cho thấy có đến 50% sinh viên tốt nghiệp không đáp ứng các yêu cầu chuyên môn và phải đào tạo lại.
Theo một nghiên cứu về kỹ năng tiếng Việt trong các sinh viên khoa ngữ văn năm 1997-1998 tại Trường ĐH Sư phạm TPHCM, trong số 752 sinh viên từ năm thứ nhất đến năm thứ tư, chỉ có 45% đạt yêu cầu về chính tả và 26% đạt yêu cầu về cú pháp! Trong một cuộc hội thảo với chủ đề “Toán, lý, hóa trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” vào ngày 28-4-2000, một đại biểu của Hội Toán học Việt Nam đánh giá trình độ sinh viên tốt nghiệp trong nước như sau: “Có thể nói không quá đáng rằng trình độ ĐH hiện nay chỉ bằng đại học đại cương (hai năm đầu của ĐH nước ngoài), cao học bằng ĐH và phó tiến sĩ chỉ bằng cao học”. Tôi nghĩ rằng đánh giá này có phần quá bi quan và không hoàn toàn đúng với thực tế, nhưng nó cũng nói lên phần nào thực trạng rất đáng lo ngại cho tình trạng chất lượng đào tạo ĐH ở trong nước.
Cơ sở vật chất: Ở nước ta, tất cả các thư viện ĐH lớn cấp quốc gia (chưa nói đến ĐH nhỏ) mà tôi được biết đều rất nghèo nàn. Sách giáo khoa chẳng có bao nhiêu và đại đa số đều quá cũ; sách tham khảo cực kỳ hiếm và rời rạc; còn tập san khoa học thì gần như con số không. Sự nghèo nàn của thư viện ĐH nước ta đến nỗi nếu người mới ghé thăm có thể nhầm đó là một thư viện trường trung học! Đã thế mà việc mượn sách cũng rất khó khăn, với bao thủ tục nhiêu khê, làm nản lòng sinh viên.
Hệ thống máy tính và Internet của các trường ĐH Việt Nam chỉ có thể mô tả bằng ba chữ: quá nghèo nàn. Chưa có trường ĐH nào có máy mainframe. Chưa có trường ĐH nào có hệ thống thư viện điện tử. Các phần mềm cho nghiên cứu khoa học và giảng dạy cũng chưa được đầu tư đúng mức và hệ quả là các nhà nghiên cứu sử dụng phần mềm không hợp pháp. Chưa có trường ĐH nào sử dụng công nghệ thông tin một cách hữu hiệu. Ngày nay, trong khi phần lớn các trường ĐH phương Tây sử dụng Internet như là một phương tiện học tập, thì ở nước ta công nghệ này chủ yếu chỉ tập trung vào những website màu mè, nhưng lại thiếu thông tin. Ngay cả giáo sư cũng không sử dụng địa chỉ email của trường!
Do đó, tôi đồng ý với quan điểm rằng chất lượng giáo dục ĐH cần phải “đổi mới từ gốc đến ngọn”, “gốc” ở đây là nâng cao trình độ khoa học của đội ngũ giảng viên, cụ thể là gia tăng tỉ lệ giảng viên với học vị tiến sĩ lên cỡ tương đồng với các nước trong vùng và “ngọn” là đầu ra, là sinh viên tốt nghiệp. Nhưng muốn có đầu ra tốt thì chúng ta phải quan tâm đầu tư nhiều hơn nữa cho cơ sở hạ tầng, nhất là thư viện và công nghệ thông tin. Tất cả những bàn thảo về chất lượng giáo dục ĐH mà không nói đến đầu tư cho thư viện, công nghệ thông tin và cơ sở hạ tầng đều vô nghĩa.