Chủ nhật, 09/12/2007 | 23:29GMT+7
email  in  comment
Công ơn thầy Thức

Tôi võ vẽ được một vài câu văn, viết được một số bài đăng báo và được giải thưởng là nhờ công lao của thầy Phạm Đình Thức. Thầy cố công rèn dạy tôi viết văn từ hồi còn nhỏ.

Lũ chúng tôi ỷ y con nhà giàu, từ miệt biển đổ bộ lên miệt đồng để học thì ít, phá phách thì nhiều. Chúng tôi phá nát khu vườn ổi của người bạn thân cha chúng tôi. Thầy Phạm Đình Thức khổ tâm với chúng tôi. Trong số những đứa phá phách táo tợn nhất có con bé Bẽm (nhân vật đặc biệt này tôi đã viết rất rõ trong truyện ngắn Ăn ớt đăng Báo Tiền Phong số 17 năm 1998). Con Bẽm dốt hơn tất cả, nhưng nó chê tôi “dốt như bò”, thử hỏi tôi dốt đến mức nào, nhất là dốt môn văn!

Quả đúng như con Bẽm nói, tôi xấu hổ với môn văn nếu không gặp được thầy Phạm Đình Thức!

Tôi còn nhớ rất rõ, có lẽ thầy thương tôi nhờ tôi có công gãi lưng cho thầy. Tôi giấu tịt con Bẽm việc gãi lưng kẻo nó lại chê tôi: “Đồ nịnh thầy!”.

Nhà thầy ở xa, thầy mang cơm theo ăn tại trường. Trưa nào cũng vậy, đợi thầy ăn cơm xong, tôi nhẹ nhàng vén áo thầy lên, bấm cho thầy từng hột sảy. Thầy đã ngứa và lim dim hai con mắt. Có thể thầy suy nghĩ: Một thằng có quá nhiều tình cảm mà để cho nó dốt văn thì tội nghiệp! Thế là, thầy cố công rèn cặp môn văn cho tôi. Thầy cười nói với tôi: “Muốn giỏi văn, thầy phải tập cho con mê văn. Con mê văn rồi, thầy mới tập cho con cú pháp”.

Mở đầu, thầy kể những câu chuyện nhỏ có thật trong đời thầy làm tôi xúc động. Dần dần... thầy kể những câu chuyện dài trong sách báo và trong tiểu thuyết. Thầy kể rất hay. Sẵn thương thầy, tôi vểnh tai lên nghe không bỏ sót một lời. Tiếp đến, thầy trích những câu văn thầy cho là rất hay, đọc đi đọc lại cho tôi nghe.

Cho đến bây giờ, mỗi lần cần viết về một vấn đề gì, tôi vẫn còn nhớ như in trong trí óc những câu văn, câu thơ hay mà thầy đã truyền đạt cho tôi. Chẳng hạn, để tả về biển, tôi nhớ câu: “Rừng phi lao vi vút trong gió, bãi cát im lìm ngủ dưới trăng, mặt biển thẫm xanh gợn đầy sóng bạc chạy mãi đến chân trời mờ hơi sương...”. Để tả về núi, tôi nhớ câu: “Mây trời ngừng lại sau đèo. Mình cây nắng gội bóng chiều không đi...”. Để tả về sông, tôi nhớ câu: “Chàng hình dung những cảnh mưa trong trăng, những khoảng không rộng rãi mờ mờ... một bến đò rất xa và một con thuyền ngủ im dưới mưa...”.

10 năm kháng chiến, tôi canh cánh trong lòng hoài bão viết văn. Tôi đọc Chí Phèo của Nam Cao, rất muốn viết như Nam Cao nhưng không thể viết được. Tôi giống như người học đàn, tập luyến láy quá kỹ không thể đàn hay được bản nhạc hùng.

Chờ mãi đến năm 1989, tôi mới viết được truyện ngắn đầu tay Thằng con nối nghiệp được đăng báo, in sách và được giải khuyến khích truyện ngắn hay của Hội Nhà văn TPHCM. Tiếp đến, sẵn đà hứng thú, tôi viết thêm được một số truyện khác.

Đối với tôi, một người dốt văn viết được văn, được đăng báo và có giải thưởng là quá phấn khởi, chẳng dám mong ước gì hơn. Có thể nói những nỗ lực viết văn của tôi thuộc về công lao của thầy Phạm Đình Thức.

Bây giờ thầy ở đâu, còn sống hay đã mất? Tôi hoàn toàn thất lạc tin tức. Nhưng trong mỗi dòng văn của tôi vẫn còn đọng mãi công ơn thầy Phạm Đình Thức.

Cuộc thi viết về người thầy mang tên “Người thầy của tôi” do Báo Người Lao Động phối hợp với Công ty Cổ phần May Nhà Bè tổ chức nhận bài đến hết ngày 15-4-2008. Địa chỉ nhận bài dự thi: Tòa soạn Báo Người Lao Động, số 127 Võ Văn Tần, Q.3 - TPHCM; Fax: (08) 9304707;

e-mail: khoagiao@nld.com.vn (ngoài bì thư ghi: Bài dự thi “Người thầy của tôi”).

Mời bạn đọc xem chi tiết trên Người Lao Động online (www.nld.com.vn) .

Trần Tú (Hội An)
Ngày :
192.168.4.130