Đào tạo nhiều, đạt chuẩn ít
Giai đoạn 2001-2005 đã gửi đi đào tạo sau ĐH nước ngoài bằng ngân sách Nhà nước được 92 người. Số lượng các cơ sở đào tạo chính quy ĐH-CĐ về CNTT tăng lên đáng kể so với năm 2000, trong đó đào tạo ĐH từ 42 lên 62, CĐ từ 36 lên 71. Số lượng tuyển sinh đào tạo về CNTT tăng nhanh, các năm 2004 và 2005 mỗi năm 10.000 người.
Chỉ tiêu đào tạo thêm 50.000 chuyên gia về CNTT ở các trình độ khác nhau đến năm 2005 có thể xem là đạt được. Tuy nhiên, về chất lượng các “chuyên gia” này, Bộ Bưu chính – Viễn thông (nay là Bộ Thông tin - Truyền thông) thẳng thắn chỉ rõ: “Chất lượng nguồn nhân lực CNTT còn hạn chế, chưa đáp ứng nhu cầu ứng dụng và phát triển CNTT”.
Kết quả giám định kỹ năng kỹ sư CNTT cơ bản theo tiêu chuẩn Nhật Bản tại Trung tâm Sát hạch CNTT và Hỗ trợ đào tạo (VITEC) thuộc Bộ Khoa học – Công nghệ từ năm 2001-2005 cho một kết quả đáng buồn: Trong số 2.285 kỹ sư tham dự sát hạch, chỉ có 367 người đạt và được cấp chứng chỉ, chiếm tỉ lệ 16,06%.
Hơn nữa, hệ thống các chương trình đào tạo và các chứng chỉ chưa có sự liên thông nên sự đào tạo lặp lại, gây lãng phí và không thuận lợi trong việc đánh giá, sử dụng nguồn nhân lực và bảo đảm quyền lợi của người học.
Nhìn chung, việc xây dựng các chương trình trọng điểm đều bị chậm trễ và hầu như không triển khai được trong giai đoạn vừa qua. Trong 4 chương trình trọng điểm, chỉ có chương trình phát triển nguồn nhân lực về CNTT đã được xây dựng và phê chuẩn vào tháng 4-2004. Tuy nhiên, việc triển khai chương trình này cũng đang gặp nhiều khó khăn do không có cơ chế thực hiện rõ ràng.
Tiền được “bơm” như nước, vẫn than ít
Riêng tại Đề án 112, đến trước khi chấm dứt sự tồn tại của Ban Điều hành, ban này đã xây dựng và triển khai chương trình đào tạo ứng dụng tin học cho 64.000 cán bộ công chức trong các cơ quan hành chính từ Trung ương đến địa phương.
Ban Điều hành Đề án 112 khẳng định: “Xây dựng được chương trình, giáo trình đào tạo chuẩn quốc tế gồm 8 môn học (đối với công chức) và 14 môn học (đối với quản trị viên mạng). Chuẩn hóa quy trình đào tạo, mỗi học viên có một máy tính nối mạng với Trung tâm Tích hợp dữ liệu của cơ quan và Internet; mỗi lớp đào tạo 21 ngày...”.
Trong 13 trung tâm đào tạo nói trên, Công ty ISA cũng chính là doanh nghiệp đã bán phần mềm Microsoft cho Ban Điều hành Đề án 112 với giá 9 tỉ đồng. Trong đó, 3 tỉ đồng đã bị chia chác.
Tuy nhiên, khi báo cáo với đoàn giám sát của Ủy ban Khoa học – Công nghệ – Môi trường của Quốc hội, một lãnh đạo Sở Bưu chính – Viễn thông TPHCM vẫn khẳng định “chương trình đào tạo cho cán bộ công chức của Đề án 112 là tương đương với bằng A tin học”. Tức là chi phí sẽ chỉ bằng một phần rất nhỏ so với chi phí của một học viên theo học chương trình đào tạo của Đề án 112 – thấp nhất khoảng 2 triệu đồng/học viên.
Trái lại, khi sơ kết nhiệm vụ đào tạo tại TP Hạ Long ngày 14-8-2004, Ban Điều hành Đề án 112 vẫn kêu gào: Khó khăn hiện tại mà Ban Điều hành Đề án 112 Chính phủ gặp phải là kinh phí đào tạo chưa phù hợp. Các đơn giá đào tạo (áp dụng tạm thời) tương đối thấp, các chế độ tài chính đối với học viên chưa thỏa đáng. Ban Điều hành sẽ cùng Bộ Tài chính và các đơn vị liên quan nghiên cứu đề xuất một số định mức đào tạo mới trình cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Thiếu người vận hành, máy móc đắp chiếu
Không những chất lượng đào tạo của Đề án 112 không đạt yêu cầu, một trong những lãng phí lớn của việc triển khai này là các địa phương mới chỉ chú trọng phần cứng, cơ sở hạ tầng CNTT lại đầu tư một cách ồ ạt. Trong khi đó, công nghệ của ngành CNTT luôn thay đổi rất nhanh, nếu chỉ đầu tư để đắp chiếu thì sẽ lạc hậu ngay sau vài tháng.
Tính đến hết năm 2005, các bộ, tỉnh, thành đã xây dựng các hệ thống tin học điện tử cấp bộ, tỉnh trên cơ sở hạ tầng kỹ thuật thuộc Đề án 112 gồm 115 trung tâm tích hợp dữ liệu, 1.613 mạng LAN cấp tỉnh, huyện; 2.451 máy chủ cùng các thiết bị đồng bộ, 26.990 máy trạm.
Người vận hành các loại máy móc mua về này, theo Bộ Bưu chính – Viễn thông thì “thiếu lực lượng kỹ thuật viên chuyên trách, đặc biệt là các tỉnh khó khăn và các cơ quan hành chính cấp cơ sở”.
|
Chết non do triển khai vội vã Đề án 112 cũng đã hướng dẫn các bộ, tỉnh nghiên cứu và công bố “định hướng lựa chọn công nghệ cho Đề án 112”, nghiên cứu mô hình tổng hợp hệ thống thông tin điện tử. Ban Điều hành Đề án 112 đã phối hợp nghiên cứu xây dựng và công bố quy trình xây dựng thử nghiệm và triển khai phần mềm ứng dụng của Đề án 112; xây dựng thử nghiệm phần mềm ứng dụng dùng chung; xây dựng thử nghiệm các phần mềm dịch vụ tổng hợp. Mặc dù đây mới chỉ là “thử nghiệm” nhưng Ban Điều hành Đề án 112 đã triển khai trên diện rộng phần mềm dùng chung. Hệ quả là tính đến cuối năm 2005, 20 địa phương có xác nhận cài đặt phần mềm dùng chung “thông tin tổng hợp kinh tế - xã hội” cài đặt ở 966 điểm; phần mềm dùng chung “hệ quản lý văn bản và hồ sơ công việc” cài đặt ở 787 điểm, “trang tin điện tử phục vụ điều hành” cài đặt 832 điểm. Trong đó, chỉ có 35% số điểm cài đặt các phần mềm dùng chung này được vận hành. Ban Điều hành Đề án 112 Chính phủ báo cáo, nguyên nhân khiến nhiều điểm cài đặt các phần mềm dùng chung không vận hành được là do lỗi kỹ thuật và lý do hành chính. |
Bình luận (0)