851/1.394 học viên là cán bộ, công chức ở Cần Thơ vừa được Viện Nghiên cứu Phát triển và Đào tạo nhân lực Đông Nam Á cấp chứng chỉ B Anh văn. Theo quy định của Bộ GD-ĐT về thời lượng dạy và học ngoại ngữ để được cấp chứng chỉ quốc gia như sau: trình độ A: 400 tiết, trình độ B: 400 tiết, trình độ C: 450 tiết. Trong khi đó, Viện Nghiên cứu Phát triển và Đào tạo nhân lực Đông Nam Á chỉ tổ chức dạy trong thời lượng 40 tiết cho mỗi lớp học để thi trình độ B và không cần trình độ A. Thế nhưng hơn phân nửa số học viên qua kỳ thi (cũng do viện tổ chức) đều đạt và được cấp chứng chỉ trình độ B Anh văn. Chứng chỉ thì thật mà trình độ thì giả là do vậy!
Nạn bằng thật học giả không chỉ xảy ra trong việc học tiếng Anh mà còn có ở các kỳ thi tốt nghiệp khác, kể cả ở bậc đại học và sau đại học. Tình trạng thuê người đi học, đi thi, viết luận án không còn là hiện tượng cá biệt, hoặc trong phạm vi hẹp mà đã phổ biến đến mức báo động.
Bằng giả hay bằng thật nhưng học giả (kiểu như 851 chứng chỉ B Anh văn ở Cần Thơ) đều không có giá trị thực, không được xã hội thừa nhận và sớm muộn gì cũng bị bóc trần. Người lao động của ta hiện nay khi đi xin việc trình chứng chỉ trình độ B, C Anh văn đều không được giám đốc nhân sự các công ty nước ngòai chấp nhận và bất luận trường hợp nào họ cũng đều phỏng vấn trực tiếp. Thế thì tại sao có nhiều người muốn có bằng giả, hoặc nửa giả đến vậy? Và loại người này là những ai? Phải có một cuộc điều tra xã hội mới có lời giải đáp chính xác. Nhưng dễ nhận biết nhất là số người không có trình độ, làm biếng học mà lại muốn có bằng cấp để tìm một vị trí tương đối khá trong xã hội, trong guồng máy Nhà nước. Và với cách làm máy móc tiêu chuẩn hóa cán bộ, công chức theo chủ nghĩa bằng cấp đã đẩy nạn bằng giả và tình trạng bằng thật, học giả từ chỗ không bình thường trở thành bình thường lan tràn khắp nơi. Nạn tiêu cực trong thi cử trở thành vấn nạn quốc gia cũng từ nguyên nhân này mà ra. Chống lại vấn nạn này, ngành giáo dục là lực lượng chủ công nhưng chưa đủ, phải có sự phối hợp của toàn xã hội.